Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025)
Nhằm thiết thực kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng
Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trang
thông tin điện tử Liên đoàn Lao động tỉnh trân trọng giới thiệu Đề cương tuyên
truyền do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương biên soạn.
I. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - SỰ KIỆN VĨ
ĐẠI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Bối cảnh lịch sử
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, cục diện thế giới
thay đổi nhanh chóng. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc
với ưu thế áp đảo nghiêng về phe Đồng minh. Tại châu Âu, Hồng quân Liên Xô phối
hợp với quân đội các nước Anh, Mỹ, Pháp, Canađa… liên tiếp giành thắng lợi,
giải phóng nhiều quốc gia và tiến vào Béclin. Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu
hàng vô điều kiện, chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tại châu Á - Thái Bình
Dương, quân đội phát xít Nhật rơi vào thế bị bao vây, uy hiếp nặng nề. Ngày 8/8/1945,
Liên Xô tuyên chiến với Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông, giải
phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng
tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức
chấm dứt.
Tình hình ấy mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa
chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định: đây là thời
cơ “ngàn năm có một” để nhân dân ta vùng lên giành lại độc lập. Trong khi quân
Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, thực dân
Pháp đã rắp tâm quay trở lại, tìm cách dựa vào Đồng minh, còn các thế lực khác
cũng bắt đầu can thiệp; nếu không chớp lấy cơ hội này, vận hội dân tộc có thể
bị bỏ lỡ.
Ngay từ ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung
ương Đảng đã họp khẩn, ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước
rộng khắp. Ngày 12/3/1945, Trung ương ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta”, khẳng định: “Đây là thời cơ tốt để nhân dân ta vùng
lên giành độc lập”.
Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị
quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải
phóng quân. Ngày 16/4, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Ủy ban dân tộc
giải phóng từ Trung ương đến địa phương. Đầu tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo toàn quốc. Ngày
4/6/1945, Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập. Từ giữa năm 1945,
cao trào kháng Nhật cứu nước lan rộng, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp
với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần diễn ra mạnh mẽ tại nhiều địa
phương trên cả nước.
2. Diễn biến
Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày
13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ngay trong ngày đã ra
Quân lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân
Trào thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh tổng
khởi nghĩa, thống nhất quốc kỳ nền đỏ sao vàng năm cánh, chọn “Tiến quân ca”
làm quốc ca, và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ Lâm
thời cách mạng Việt Nam) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cùng thời điểm đó,
Người gửi thư kêu gọi toàn dân, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc
ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Từ ngày 14/8/1945, tại nhiều địa phương, các
cấp bộ Đảng và Việt Minh đã chủ động phát động khởi nghĩa trước khi nhận được
lệnh chính thức, căn cứ vào tình hình cụ thể và tinh thần Chỉ thị “Nhật - Pháp
bắn nhau và hành động của chúng ta”. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi: từ
các huyện, xã vùng đồng bằng Bắc Bộ đến các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa…
Chiều 16/8/1945, theo chỉ đạo của Ủy ban Khởi
nghĩa, một đơn vị Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát
từ Tân Trào, tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên - mở màn cho chiến dịch quân
sự hỗ trợ tổng khởi nghĩa. Cùng lúc, lực lượng vũ trang Chiến khu Trần Hưng Đạo
phối hợp đánh chiếm các địa phương như Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An; ở miền
Trung, lực lượng cách mạng tại Quảng Ngãi chiếm dinh tỉnh trưởng ngay trong đêm
16/8 - chính quyền tay sai sụp đổ không kịp trở tay.
Ngày 18/8/1945, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương,
Hà Tĩnh, Quảng Nam là những địa phương đầu tiên giành được chính quyền tại tỉnh
lỵ - tạo khí thế bừng bừng khắp cả nước.
Tại Hà Nội, chiều 17/8/1945, hàng vạn quần
chúng từ nội, ngoại thành tham gia mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, rồi tuần hành
qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc
lập!”. Ngày 18/8/1945, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên nhiều tuyến phố chính. Đỉnh
cao là ngày 19/8/1945: cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra với khí thế áp đảo. Các đội
tự vệ chiến đấu và quần chúng cách mạng chiếm phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở Cảnh sát,
Sở Bưu điện, Trại Bảo an binh…; chính quyền Bảo Đại - Trần Trọng Kim tan rã.
Đêm 19/8/1945, chúng ta hoàn toàn làm chủ Thủ đô.
Ở Huế, ngày 20/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh
được thành lập. Từ ngày 21/8/1945, hàng loạt cuộc biểu tình thị uy diễn ra, tạo
thế áp đảo. Ngày 23/8/1945, hàng vạn người tiến vào thành phố, chiếm các công
sở trọng yếu và giành chính quyền trong hòa bình.
Tại Sài Gòn - Gia Định, Xứ ủy Nam Kỳ ấn định
ngày khởi nghĩa là 25/8/1945. Sáng hôm đó, các đoàn công nhân, nông dân, thanh
niên từ Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho đổ về trung tâm thành phố. Quần
chúng chiếm lĩnh Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Bưu điện, nhà ga, nhà máy điện…
chính quyền bù nhìn nhanh chóng sụp đổ, chính quyền cách mạng được thiết lập.
Thắng lợi vang dội tại ba đô thị lớn: Hà Nội,
Huế, Sài Gòn đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Từ thành thị đến nông thôn, từ
miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo - phong trào khởi nghĩa dâng
lên như vũ bão. Tại Côn Đảo - nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”,
nơi giam giữ hàng ngàn chiến sĩ cách mạng kiên trung - khi nhận được tin phát
xít Nhật đầu hàng và cuộc Tổng khởi nghĩa đang lan rộng trong cả nước, tổ chức
Đảng trong nhà tù đã nhanh chóng họp bàn, tổ chức lực lượng, lãnh đạo tù nhân
nổi dậy. Tại Phú Quốc, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Việt Minh, tù chính trị
cùng quần chúng nhân dân trên đảo cũng vùng lên lật đổ chính quyền thân Nhật,
thiết lập chính quyền cách mạng. Ở nhiều đảo khác như Lý Sơn, Cát Bà, Bạch Long
Vĩ, Hòn Gai, Vân Đồn…, phong trào khởi nghĩa hưởng ứng Tổng khởi nghĩa Tháng
Tám cũng diễn ra mạnh mẽ, đồng thời với các địa phương trên đất liền, thể hiện
tinh thần yêu nước sục sôi, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng độc lập của
toàn dân tộc. Các tổ chức Việt Minh, lực lượng tự vệ và quần chúng yêu nước đã
nhanh chóng phát động các cuộc mít tinh, biểu tình, tước vũ khí của lính bảo
an, chiếm các công sở và tuyên bố chính quyền về tay Nhân dân.
Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng
8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả
nước. Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ
phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch
sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên
bố quyền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước thế giới “Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do,
độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời - đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: kỷ
nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước.
3. Nguyên nhân thắng lợi
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi
là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ
giữa thời cơ lịch sử thuận lợi với sự chuẩn bị công phu, bài bản và sự lãnh đạo
sáng suốt, linh hoạt của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Trước hết, thắng lợi đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời
của Đảng. Đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân mà Đảng xác định phù
hợp với nguyện vọng của đại đa số Nhân dân. Đảng đã thể hiện tầm nhìn chiến
lược và năng lực tổ chức thực tiễn xuất sắc khi chỉ đạo toàn dân nổi dậy đúng
thời điểm, nhanh chóng giành chính quyền trong cả nước với tinh thần: “Dù phải
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Thứ hai, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình
chuẩn bị lâu dài, toàn diện về chính trị, tổ chức, tư tưởng và lực lượng vũ
trang. Từ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các cuộc vận động Dân chủ, Cao trào
kháng Nhật cứu nước đến việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức các đội vũ
trang, xây dựng căn cứ địa, mở rộng lực lượng quần chúng… Đảng đã dày công
chuẩn bị để sẵn sàng chớp lấy thời. Việc chủ động phát động khởi nghĩa từng
phần trước khi tổng khởi nghĩa cũng thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt trong chỉ
đạo cách mạng.
Thứ ba, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của tinh thần
yêu nước, truyền thống bất khuất và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của toàn
thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Việt
Minh, đã nhất tề đứng dậy ở cả ba miền, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành
thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo. Đây là biểu hiện sinh động sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc, yếu tố nội sinh mang tính quyết định đối với thắng
lợi của cách mạng.
Thứ tư, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong bối cảnh quốc
tế hết sức thuận lợi. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thất bại
hoàn toàn của phát xít Đức và phát xít Nhật. Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh,
chính quyền tay sai ở Đông Dương tan rã, tạo nên một khoảng trống quyền lực.
Đảng ta đã đánh giá đúng thời cơ "ngàn năm có một" và phát động toàn
dân đứng lên tổng khởi nghĩa khi các thế lực thù địch còn chưa kịp phản ứng
hoặc can thiệp.
4. Ý nghĩa lịch sử
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra
một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Thắng lợi ấy đã đập tan xiềng xích
nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm
và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra
đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu
bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới của dân
tộc: Kỷ nguyên độc lập - tự do; kỷ nguyên Nhân dân lao động nắm chính quyền,
làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta
trở thành một đảng cầm quyền, chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những
thắng lợi tiếp theo.
Cách mạng Tháng Tám không chỉ có ý nghĩa đặc biệt
đối với lịch sử Việt Nam mà còn mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu
sắc. Thắng lợi ấy đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa và các lực lượng bị áp
bức trên thế giới đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã
hội. Với thắng lợi đó, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập mà còn
khẳng định vị thế và con đường phát triển của mình trong dòng chảy của lịch sử
thế giới hiện đại.
II. THÀNH TỰU NỔI BẬT SAU 80 NĂM XÂY DỰNG, BẢO
VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
1. Giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa
vụ quốc tế
Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám
năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh đầy cam go,
thách thức. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối diện với muôn vàn khó
khăn, hiểm nguy, đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc
ngoài đan xen. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, sáng suốt, kiên
định của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết
một lòng, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, bản lĩnh và trí tuệ sáng
tạo, vững vàng vượt qua những ghềnh thác cam go của lịch sử.
Giai đoạn 1945-1946, Đảng và Bác Hồ đã lãnh
đạo toàn dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: xây dựng chính quyền cách mạng
và bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/01/1946 được
tổ chức thành công, Quốc hội khóa I ra đời; Hiến pháp dân chủ đầu tiên được ban
hành; chính quyền cách mạng không ngừng củng cố; các phong trào xóa nạn mù chữ,
diệt “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” được phát động sôi nổi; các thế
lực phản cách mạng bị trấn áp. Trước âm mưu xâm lược lần thứ hai của thực dân
Pháp, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ
ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất
cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”.
Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện,
trường kỳ, kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, vừa kháng
chiến vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta đánh bại từng bước các chiến
lược của thực dân Pháp. Đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 - một
bản anh hùng ca vĩ đại, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ
Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Nhân dân
ta, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp và
can thiệp Mỹ.
Tuy nhiên, sau đó đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn
vào miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam
thành thuộc địa kiểu mới. Trước tình thế đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên quyết thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc - xây dựng hậu
phương lớn cho cả nước, và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam - đấu tranh
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
là bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Trải qua 21 năm trường
kỳ, gian khổ và oanh liệt (1954 - 1975), Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân hai miền
đất nước giành thắng lợi từng bước trước các chiến lược chiến tranh của đế quốc
Mỹ. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa nỗ lực phục hồi và
phát triển kinh tế, thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn, không ngừng chi viện cho
tiền tuyến miền Nam. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ
Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày thống nhất, đất nước ta tiếp tục đối
mặt với nhiều khó khăn to lớn. Một mặt, chúng ta phải khẩn trương khắc phục hậu
quả nặng nề của hơn ba thập kỷ chiến tranh, ổn định đời sống Nhân dân, củng cố
chính quyền cách mạng và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Mặt khác vừa
chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của
Tổ quốc; đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia
thoát khỏi họa diệt chủng và tiến hành công cuộc hồi sinh đất nước.
Trong khi kiên cường đấu tranh bảo vệ Tổ quốc,
nước ta còn phải đối mặt với tình trạng bị bao vây, cấm vận kéo dài từ bên
ngoài; đồng thời, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp không còn phù
hợp, làm phát sinh nhiều hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội. Trong điều kiện đầy khó khăn ấy, Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo,
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, từng bước vượt qua trở lực, nhanh chóng khôi phục
kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và chủ quyền quốc gia, tạo nền
tảng để chuyển hướng chiến lược trong tư duy phát triển.
Mười năm sau thống nhất (1975-1985) là giai
đoạn đầy thử thách. Đó là thời kỳ Đảng ta từng bước tìm tòi con đường đổi mới,
tư duy phát triển dần được hình thành từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt
Nam. Những thành tựu cũng như những khó khăn, hạn chế trong thời kỳ này đã để
lại những bài học quý báu, đặt nền móng tư tưởng và thực tiễn cho công cuộc Đổi
mới toàn diện do Đảng khởi xướng từ năm 1986.
2. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
trong công cuộc đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
- Một quốc gia có chế độ chính trị độc lập, có
chủ quyền lãnh thổ và tự quyết định con đường phát triển của mình
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi
đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự kiện ngày
2/9/1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ
nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á đã chấm dứt vĩnh viễn chế độ phong kiến, kết
thúc hơn 80 năm bị đô hộ. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tiếp nối thắng lợi ấy, ngày 06/01/1946, cuộc Tổng Tuyển cử toàn
quốc lần đầu tiên được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, với 333 đại
biểu Quốc hội được Nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra. Quốc hội khóa I đã thông
qua Hiến pháp năm 1946, xác lập nền tảng pháp lý nhà nước kiểu mới, khẳng định
chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân - có đầy đủ tư cách đại
diện cho đất nước trên trường quốc tế.
Sau ba thập kỷ tiếp tục trường kỳ kháng chiến,
đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non
sông thu về một mối. Hội nghị Trung ương 24 (tháng 9/1975) xác định nhiệm vụ
hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Kết quả, ngày 25/4/1976, hơn 23
triệu cử tri (98,8 % tổng số) tham gia Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả
nước. Tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội quyết nghị đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là “Tiến quân ca”, Quốc
huy mang dòng chữ “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, quyết định Hà Nội là
Thủ đô và đổi tên Thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc hoàn tất thống nhất đất nước về mặt nhà
nước đã tạo điều kiện chính trị căn bản để huy động, phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, mở đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới;
khẳng định quyền tự quyết của Nhân dân Việt Nam trên con đường kiên định độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn
minh, hùng cường.
- Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ
Ngay từ khi ra đời tháng 2/1930, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã kiên định con đường xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh chính trị đầu tiên
được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, nêu mục tiêu chiến lược “làm cho nước
Nam được hoàn toàn độc lập” để “tiến tới xã hội cộng sản”. Tiếp đó, Luận cương
chính trị tháng 10/1930 chỉ rõ: cách mạng Việt Nam “bỏ qua giai đoạn tư bản,
trực tiếp tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xóa bỏ ách
thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội - kỷ nguyên mà Nhân dân làm chủ xã hội và chính cuộc sống của mình.
Tại Đại hội II (tháng 2/1951), Luận cương cách
mạng Việt Nam lần đầu tiên trình bày những điều kiện và phương hướng quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Trải qua hai thập kỷ chiến tranh giải phóng và kháng chiến
bảo vệ Tổ quốc, nhận thức đó tiếp tục được củng cố và phát triển. Bước ngoặt
đổi mới toàn diện do Đại hội VI (tháng 12/1986) khởi xướng đã được lý luận hóa
bằng việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng
tổng kết thực tiễn cách mạng trong nước, đã tạo nền tảng cho tư duy mới về thời
kỳ quá độ.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII (tháng 6/1991) thông qua và Cương lĩnh
(bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI phê chuẩn, là những mốc quan
trọng đánh dấu quá trình hoàn thiện về lý luận. Tám đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) giúp
Đảng nhận thức sâu sắc hơn về dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân
dân; về mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, coi chất lượng, hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế là trung tâm; về con người và văn hóa là nền tảng
tinh thần, nguồn lực nội sinh của phát triển; về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc gắn với mở rộng quan hệ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại.
Từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, đường lối đổi
mới được bổ sung, hoàn thiện, tiếp tục khẳng định: kiên định chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành
động; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới đồng bộ, toàn diện trên mọi lĩnh vực,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thành quả đổi mới gần bốn thập kỷ qua chứng
minh tính đúng đắn và sáng tạo của con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: kinh
tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt,
vị thế và uy tín quốc tế của đất nước không ngừng nâng cao. Những kết quả ấy
khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam và
xu thế phát triển của thời đại, đồng thời minh chứng cho sự phát triển ngày
càng sáng tỏ của nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ,
khủng hoảng, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung
bình
Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ đầu tiên xây
dựng nền kinh tế mới ở Việt Nam, đồng thời cũng là giai đoạn gian khổ nhất
trong lịch sử phát triển đất nước. Trong bối cảnh vừa giành được chính quyền,
lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhiệm vụ xây dựng
và cải tạo nền kinh tế được triển khai trong điều kiện hết sức khó khăn. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã từng bước chuyển đổi nền kinh tế tàn dư của
chế độ thực dân, phong kiến vốn lạc hậu, lệ thuộc, thành một nền kinh tế dân
chủ, độc lập, phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Từ năm 1955 đến năm 1975, đất nước bị chia cắt
làm hai miền với hai mô hình kinh tế - xã hội khác nhau. Ở miền Bắc, Đảng và
Nhà nước ta đã lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế phù hợp với từng thời
kỳ: từ khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957), đến hoàn
thành cải cách ruộng đất, cải tạo quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ
nghĩa (1958 - 1960), rồi chuyển sang phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với
nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam trong điều kiện chiến
tranh khốc liệt (1961 - 1975).
Giai đoạn 1976 - 1985, sau khi đất nước thống
nhất, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là thời kỳ mà công cuộc cải
tạo, xây dựng và phát triển kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Nhân dân cả nước tích cực triển khai kế
hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981 -
1985). Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu trong khôi phục sản xuất và xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém.
Những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp kéo dài, cùng những khó
khăn từ bên ngoài đã khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, mất cân đối,
thậm chí có những biểu hiện của khủng hoảng nghiêm trọng.
Trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, từ năm
1986, Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,
trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Với việc từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp,
phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những
chuyển biến tích cực. Đến năm 1995, các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm
(1991-1995) đều hoàn thành và vượt mức, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội, tạo đà chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu
quả nặng nề của chiến tranh và bao vây cấm vận, Việt Nam từng bước vươn lên trở
thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Tính đến năm 2024,
quy mô nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 32 thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng
đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Thành quả ấy là minh chứng sinh
động cho tầm vóc, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong
hành trình vượt qua khó khăn, khơi dậy nội lực, tranh thủ thời cơ, hội nhập sâu
rộng và phát triển bền vững.
- Văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, dân
tộc, khoa học, đại chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành
nguồn lực phát triển đất nước
Nhận thức của Đảng và Nhà nước, của Nhân dân
về vai trò của văn hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng đầy đủ và
nâng cao. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã
có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Tư duy lý luận về
văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của
các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống văn hóa của
Nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình
thành. Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công
nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều
phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết
thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng
đồng... Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở
rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhiều di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong
tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục
dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh
của Nhân dân được quan tâm. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được
tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. Đội ngũ làm
công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của
văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có
nhiều khởi sắc.
- Hệ thống chính sách xã hội được xây dựng và
ngày càng hoàn thiện
Từ năm 1986 đến nay, cùng với quá trình thực
hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, lĩnh vực xã hội đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và nâng cao
chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Nhận thức và quan điểm của Đảng ta về chính
sách xã hội ngày càng được hoàn thiện và phát triển thành một hệ thống nhất
quán, với nội dung cốt lõi là: tăng trưởng kinh tế luôn phải đi đôi với tiến bộ
và công bằng xã hội, phát triển vì con người, đặt con người vào vị trí trung
tâm của sự phát triển.
Chính sách xã hội đúng đắn, nhân văn, vì hạnh
phúc của Nhân dân được xác định không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực to
lớn, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong toàn xã hội, tạo sự đồng
thuận cao trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta khẳng định rõ
trách nhiệm của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị và mọi người dân trong
việc thực hiện và giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng xã hội hóa mạnh mẽ, trong
đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, bảo đảm công bằng, hiệu quả và bền vững.
Những định hướng này hướng tới mục tiêu xây
dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm, bền vững - nơi mọi người
dân đều được bảo đảm an toàn về thu nhập, việc làm, sức khỏe, giáo dục, nhà ở
và các dịch vụ cơ bản, qua đó khẳng định bản chất ưu việt của chế độ ta và củng
cố niềm tin xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong
sự nghiệp phát triển đất nước.
- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng,
Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, ổn
định chính trị - xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập
trung xây dựng và phát triển đất nước
Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta, là tiền đề căn bản để giữ gìn thành quả cách mạng, bảo đảm môi trường hòa
bình, ổn định cho công cuộc phát triển đất nước nhanh và bền vững. Đây cũng
chính là một trong những thành tựu lớn nhất, toàn diện và bền vững nhất trên
lĩnh vực quốc phòng - an ninh trong suốt 80 năm qua.
Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi
mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân
tộc, chúng ta đã kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia, biển đảo thiêng
liêng của Tổ quốc. Đồng thời, luôn giữ thế chủ động chiến lược, xử lý linh
hoạt, sáng tạo các tình huống phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng - an ninh; làm
thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động,
nhất là trên không gian mạng, trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, dân tộc,
tôn giáo và quyền con người.
An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
được giữ vững; môi trường hòa bình, ổn định lâu dài cho phát triển đất nước
được bảo đảm. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân
ngày càng vững chắc, được xây dựng đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở.
Năng lực phòng thủ của đất nước, nhất là tại các khu vực trọng yếu chiến lược,
ngày càng được tăng cường. Lực lượng vũ trang nhân dân không ngừng được củng
cố, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, luôn tuyệt đối trung thành với Tổ
quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Việt Nam kiên định đường lối quốc phòng toàn
dân, nền quốc phòng mang tính hòa bình, tự vệ, không tham gia liên minh quân
sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đường lối ấy đã nâng cao uy tín, vị thế
quốc tế của Việt Nam, góp phần củng cố niềm tin chiến lược, tạo dựng hình ảnh
một đất nước yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm và chủ động hội nhập, hợp tác
quốc phòng - an ninh, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc bằng sức mạnh tổng hợp.
Đặc biệt, trước những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng
(dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, khủng bố, an ninh mạng...), chúng ta
đã nâng cao năng lực ứng phó, điều phối hiệu quả các nguồn lực, huy động sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân để giữ vững ổn định, củng
cố niềm tin và tạo nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới, phát triển đất
nước.
Thành tựu nổi bật trong bảo vệ Tổ quốc suốt 80
năm qua không chỉ là giữ gìn chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng, mà còn là giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ,
đồng thời tạo thế và lực mới để Việt Nam hội nhập sâu rộng, nâng cao vị thế, uy
tín trên trường quốc tế, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của một dân tộc kiên
cường, độc lập và sáng tạo trong thời đại mới.
- Công tác đối ngoại đã góp phần duy trì, củng
cố môi trường hòa bình ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa
Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời hình thành đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, mềm dẻo, tranh thủ tối đa sự đồng tình của bạn bè quốc tế để
bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược, ngoại giao Việt Nam kiên trì “lấy chính nghĩa thắng cường
quyền”, khôn khéo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại
giao, tạo lập mặt trận dư luận rộng rãi ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của
Nhân dân ta.
Từ đầu thập niên 1950, hoạt động đối ngoại
được triển khai có hệ thống trên ba kênh bổ trợ lẫn nhau: đối ngoại Đảng, ngoại
giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Cơ chế phối hợp liên hoàn ấy đã làm phong
phú phương thức vận động quốc tế, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và sau đó là công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Bước sang thời kỳ đổi mới, trong bối cảnh trật tự thế
giới biến chuyển sâu sắc, Đại hội VII (1991) xác lập phương châm “đa phương
hóa, đa dạng hóa” với tinh thần: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của
tất cả các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Đại hội IX và các
Đại hội sau tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở,
đa phương hóa, đa dạng hóa, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hòa bình, hợp
tác, phát triển làm điểm tương đồng.
Nhờ kiên định đường lối ấy, Việt Nam đã bình
thường hóa và thúc đẩy quan hệ với các đối tác then chốt, gia nhập ASEAN, WTO,
CPTPP và ký EVFTA, RCEP…; thiết lập mạng lưới đối tác toàn cầu; thiết lập và
duy trì quan hệ ngoại giao với 194/194 nước thành viên Liên hợp quốc; thiết lập
và nâng cấp nhiều mối quan hệ lên đối tác chiến lược và đối tác toàn diện;
thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác sâu rộng với 5 nước Ủy viên Thường trực Hội
đồng bảo an Liên Hợp quốc, toàn bộ G7 và 17/20 nước G20; khẳng định vai trò, uy
tín trên các diễn đàn đa phương; tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình;
triển khai hiệu quả ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa…, góp phần quan
trọng duy trì môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền, thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội.
3. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập,
khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam), đặt nền móng đầu tiên cho chế độ nhà nước kiểu mới ở nước ta - Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ
đầu tiên của nước ta - thể hiện rõ yêu cầu về một nhà nước dân chủ, pháp quyền.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đã được khẳng định ngay từ thời
điểm đó: chủ quyền lập hiến thuộc về Nhân dân; bộ máy nhà nước phải là công cụ
thực hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; cán bộ, công chức không được là “ông
quan cách mạng” mà phải là “công bộc của dân”, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm
mục tiêu phục vụ. Pháp luật không phải công cụ trừng trị mà là phương tiện bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.
Tư tưởng cốt lõi đó đã được Đảng kế thừa và
từng bước hoàn thiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Đại hội VII của
Đảng (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội đã lần đầu tiên xác định những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa: quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công
rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) chính thức đưa nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa vào văn kiện Đảng. Các Đại hội IX (2001), X (2006) tiếp
tục khẳng định và bổ sung nội dung này.
Đến Đại hội XI (năm 2011), Cương lĩnh (bổ
sung, phát triển năm 2011) đã xác định: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp
và kiểm soát giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Những định hướng này
được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật quan trọng về tổ
chức bộ máy nhà nước. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục khẳng định rõ:
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân
dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng
tâm của công cuộc đổi mới hệ thống chính trị.
Qua các kỳ Đại hội, cùng với thực tiễn lãnh
đạo, nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc
hơn. Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ tiếp thu
các giá trị tiến bộ chung của nhân loại, mà còn mang những đặc trưng phù hợp
với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện đầy đủ những
nguyên lý căn bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ bản
chất, nguyên tắc tổ chức, cơ cấu vận hành, phân công quyền lực nhà nước đến vai
trò của pháp luật trong xã hội và sự lãnh đạo của Đảng.
Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những kết quả hết sức
quan trọng. Nhận thức lý luận về mô hình nhà nước này ngày càng đầy đủ, thống nhất
hơn. Hệ thống pháp luật được xây dựng ngày càng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm
tính khả thi trong thực tiễn. Vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật
được coi trọng trong hoạt động của cả hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày
càng rõ ràng và hiệu quả hơn. Bộ máy nhà nước được tổ chức tinh gọn, hoạt động
ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Quốc hội tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động,
nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước. Chính phủ tích cực, chủ động trong điều hành, tập trung quản lý vĩ
mô, cải cách hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn, phục vụ phát triển đất nước. Cải
cách tư pháp được đẩy mạnh; các cơ quan tư pháp từng bước được hoàn thiện về tổ
chức, nâng cao chất lượng hoạt động, bảo đảm nguyên tắc pháp quyền trong xét xử
và thực thi công lý. Các quyền con người, quyền công dân được hiến định và ngày
càng được cụ thể hóa bằng pháp luật và triển khai hiệu quả trên thực tế. Dân
chủ đại diện và dân chủ trực tiếp tiếp tục được phát huy. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước đổi mới phương thức hoạt động,
đóng góp thiết thực vào việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.
Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam với nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”
đang ngày càng hoàn thiện, trở thành nền tảng vững chắc góp phần vào những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
III. PHÁT HUY THÀNH QUẢ, KINH NGHIỆM TRONG 80
NĂM QUA, TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, ĐƯA ĐẤT NƯỚC
VỮNG VÀNG TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI, KỶ NGUYÊN GIÀU MẠNH, VĂN MINH, THỊNH
VƯỢNG
Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ
lực triển khai Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013,
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết Trung ương mới nhất - trọng
tâm là “ba đột phá chiến lược, sáu nhiệm vụ trọng tâm, mười hai nhóm giải pháp
lớn” - nhằm đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên quyết giữ vững
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân
dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phát huy
tối đa mọi nguồn lực, động lực, đặc biệt là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số để phát triển nhanh, bền vững; không ngừng nâng cao đời
sống Nhân dân; rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến trong khu vực, nâng
cao vị thế đất nước trên trường quốc tế; phấn đấu sớm đưa Việt Nam trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại và vươn lên tầm nước công nghiệp hiện đại
vào giữa thế kỷ XXI.
Việt Nam hôm nay bước vào kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc - với cơ hội và
thách thức đan xen. Phát huy bài học quý báu từ thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm
xây đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa Di chúc thiêng liêng của Bác
Hồ: “... xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và
giàu mạnh...”. Để biến khát vọng đó thành hiện thực, cần kiên định và vận dụng,
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường
lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định
đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây
dựng Đảng. Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng
và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật
của Nhà nước để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời cần giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khai thông mọi nguồn lực, phát
huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của đất nước, trong đó:
- Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế
phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông, huy động mọi nguồn
lực tạo động lực phát triển bứt phá đất nước; bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa giữa
đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với
hoàn thiện thể chế chính trị; với đổi mới, hoàn thiện thể chế xã hội, thể chế
văn hóa và thể chế bảo vệ môi trường sinh thái, thể chế quốc phòng, an ninh và
đối ngoại đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng
và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đổi mới đồng bộ phương
thức và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã
hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tập trung
xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn,
hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, nhất
là cấp chiến lược thật sự có đức, có tài, ngang tầm nhiệm vụ. Tăng cường kiểm
soát quyền lực trong Đảng và trong Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân
với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu
phát triển lực lượng sản xuất mới; đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ
cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ và
đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh xây dựng và thúc đẩy có hiệu
quả chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng. Phát triển kinh tế
số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Xây dựng chính phủ số, xã hội số.
- Tập trung xây dựng, hoàn thiện và thực hiện
có hiệu quả chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng
bộ với xây dựng và hoàn thiện thể chế khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo,
tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại; đẩy mạnh đào tạo,
sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, tạo động lực then chốt
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của sản phẩm,
doanh nghiệp và nền kinh tế.
- Phát triển nguồn lực con người, phát triển
văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự
phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Tiếp tục đổi mới đồng bộ, căn bản,
toàn diện, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục quốc dân. Đẩy
mạnh đổi mới phương thức quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân; thực hiện tốt các chính sách xã hội, an sinh xã hội,
phúc lợi xã hội.
- Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu
quả công tác đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại Đảng, ngoại giao
Nhà nước và đối ngoại Nhân dân trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn
định, hữu nghị, hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Tiếp
tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, biển, đảo của đất nước.
Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công
và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bầu không khí toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân nô nức thi đua chào mừng Đại hội XIV của Đảng là dịp
để chúng ta khắc sâu hơn nữa ý nghĩa lịch sử to lớn của những ngày mùa thu năm
1945 - khi dân tộc ta vùng lên giành lấy quyền làm người, làm chủ đất nước. Đó
cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm hôm nay: tiếp nối tinh thần bất khuất, khát
vọng độc lập - tự do - hạnh phúc của cha ông, hun đúc bản lĩnh và trí tuệ Việt
Nam, đổi mới mạnh mẽ và sáng tạo không ngừng, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng
dựng xây một nước Việt Nam phát triển toàn diện và bền vững trong kỷ nguyên
mới.
BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG