TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 97 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM (28/7/1929 - 28/7/2026)
ĐỀ
CƯƠNG
TUYÊN
TRUYỀN KỶ NIỆM 97 NĂM NGÀY THÀNH LẬP
CÔNG
ĐOÀN VIỆT NAM (28/7/1929 - 28/7/2026)
I. KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
VÀ CÔNG HỘI ĐỎ - TIỀN THÂN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1. Sự ra đời của của giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam ra đời và
phát triển gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những
năm cuối thế kỷ XIX. Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, xã hội Việt Nam
vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong
kiến và giai cấp nông dân; duy trì nền kinh tế lạc hậu dựa vào sản xuất tiểu
nông là chính, cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Sau khi cuộc
xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến
hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra cả nước. Các nhà
máy rượu bia, vải sợi, điện nước, ngành đường sắt, hầm mỏ, đồn điền cao su, cà
phê... lần lượt ra đời và cùng với đó đội ngũ những người công nhân Việt Nam
đầu tiên được hình thành. Họ là những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng
đất, những người thợ thủ công bị phá sản buộc phải vào làm việc trong các doanh
nghiệp tư bản Pháp. Theo số liệu thống kê trước chiến tranh thế giới lần thứ
nhất, tổng số công nhân của Việt Nam khoảng trên 10 vạn người, chủ yếu tập
trung ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Sài Gòn - Chợ Lớn, Hải Phòng và vùng
mỏ Quảng Ninh...
Sau chiến tranh thế giới lần
thứ nhất, để bù đắp những tổn thất, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước. Chúng tăng cường đầu
tư vào các ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế
biến, dệt may... nhằm tăng cường vơ vét và bóc lột ở các nước thuộc địa. Thời
kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng lên đến trên 22
vạn người vào đầu năm 1929.
Dưới sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân,
phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức tập hợp nhau lại
đấu tranh đòi quyền lợi, dẫn đến hình thành các Hội Ái hữu, Hội Tương tế trong
các nhà máy, xí nghiệp. Cuối năm 1920, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng
đã vận động thành lập Công hội Ba Son ở Sài Gòn, mở đầu cho phong trào đấu
tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
2. Sự ra đời của Công hội đỏ Bắc Kỳ - tiền
thân của Công đoàn Việt Nam ngày nay
Quá trình hình thành và phát triển của Công
hội đỏ Bắc Kỳ gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XX. Người đã tham gia Công đoàn hải ngoại
Anh khi hoạt động tại Luân Đôn trong những năm 1914 - 1917; gia nhập Công đoàn
Kim khí quận 17 Pari vào năm 1919. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đặt cơ sở lý
luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong
tác phẩm "Đường Kách mệnh", Người chỉ dẫn: "Công hội trước hết
là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau,
ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để
giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới".
Tháng 6/1925, Người sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng
Châu - Trung Quốc và trực tiếp giảng dạy nhằm nâng cao lý luận chính trị cho
học viên.
Những năm 1925 - 1928, dưới sự
lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào "Vô sản
hóa" đã thâm nhập sâu rộng vào trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm lò để
tuyên truyền, vận động công nhân tích cực tham gia phong trào đấu tranh. Sự ra
đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên (3/1929), đặc biệt là sự ra đời của Đông Dương
Cộng sản Đảng (6/1929) là kết quả của quá trình vận động, tổ chức công nhân mà
Nguyễn Đức Cảnh là một trong những sáng lập viên và giữ vai trò quan trọng.
Trên cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, Nguyễn Đức Cảnh
được Trung ương lâm thời phân công phụ trách công tác vận động công nhân.
Nhận thức được vai trò quan
trọng của tổ chức Công hội, của công nhân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc,
bóc lột, bảo vệ quyền lợi của công nhân, Nguyễn Đức Cảnh và những người đồng
chí đã tích cực tổ chức cuộc vận động phong trào công nhân, trước hết là phong
trào công nhân Bắc Kỳ để thành lập tổ chức Công hội. Ngày 28/7/1929, Đại hội
đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất khai mạc do đồng chí Nguyễn Đức
Cảnh chủ trì. Đại hội đã quyết định thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, thông
qua Điều lệ và hệ thống tổ chức của Công hội, ra báo "Lao động" và
tạp chí "Công hội Đỏ", bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng
chí Nguyễn Đức Cảnh làm Hội trưởng. Sự kiện thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc
Kỳ là mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt
Nam. Kể từ đây, GCCN Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động có
tôn chỉ, mục đích, đứng ra dẫn dắt phong trào.
II. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG
ĐOÀN QUA CÁC THỜI KỲ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 -
1945)
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản
Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tổng Công hội Đỏ đã tập hợp
lực lượng thợ thuyền, đội quân chủ lực của cách mạng Việt Nam, tạo nên cao trào
Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931. Cuối năm 1931, phong trào đấu tranh của GCCN
Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp dã man, hầu hết số cán bộ Đảng và Công hội Đỏ
đều bị địch bắt, khiến cho mối liên lạc giữa Đảng và quần chúng, giữa Công hội
Đỏ và phong trào công nhân gần như bị gián đoạn. Trong điều kiện đó,
bất chấp sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, Công hội Đỏ vẫn tích cực tuyên
truyền, vận động công nhân, phát triển tổ chức. Từ năm 1932-1936, phong trào
cách mạng trong cả nước bắt đầu phục hồi.
Từ năm 1936-1939, tổ chức Công hội Đỏ đổi tên
thành Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu chuyển sang thời kỳ hoạt động bán công
khai. Nhờ sự tổ chức linh hoạt, thích hợp với tình hình, phong trào công nhân
giai đoạn này vẫn phát triển mạnh mẽ lên đỉnh điểm mới. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng
nổ, thực dân Pháp đầu hàng và thỏa hiệp với phát xít Nhật thẳng tay đàn áp
phong trào dân chủ chống chiến tranh của nhân dân ta, thủ tiêu các quyền tự do
nghiệp đoàn. Trước tình hình đó, tổ chức Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu phải rút vào
hoạt động bí mật và lấy tên là "Hội công nhân phản đế", năm 1941 đổi
thành "Hội Công nhân cứu quốc" làm nòng cốt cho hoạt động
của tổ chức Việt Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Công đoàn Việt Nam thực sự là trung tâm đoàn kết của công nhân lao động Việt
Nam. Với trên 20 vạn người trong năm 1945, các đoàn viên Công đoàn
trở thành lực lượng nòng cốt làm nên cuộc Cách mạng tháng
Tám 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà
nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945 - 1954)
Sau Cách mạng tháng Tám thành công năm
1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 3/1946, Hội nghị đại biểu Công nhân cứu
quốc Bắc Bộ, Trung Bộ và Tổng Công đoàn Nam Bộ đã quyết định thống nhất về mặt
tổ chức trên phạm vi cả nước thành "Hội Công nhân cứu quốc". Tháng
6/1946, tại Hội nghị cán bộ Công đoàn cứu quốc đã đổi tên "Hội Công nhân
cứu quốc" thành "Công đoàn". Ngày 20/7/1946, tại Nhà hát lớn Hà
Nội, "Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam" đã chính thức được thành
lập và được công nhận là thành viên chính thức của Liên
hiệp Công đoàn thế giới vào năm 1949.
Trong những năm đầu đất nước
giành độc lập, tổ chức Công đoàn và GCCN Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan
trọng trong việc bảo vệ và phát huy thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám,
tham gia tích cực vào cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân
Pháp, các đội cảm tử Thủ đô, trong đó nòng cốt là công nhân đã chiến đấu với
tinh thần quả cảm, anh dũng.
Thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến
quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức vận động CNVCLĐ tập
trung xây dựng nhà máy, công xưởng, sản xuất vũ khí, khí tài quân
sự; khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua lao động phục vụ kháng chiến. Tại
chiến khu Việt Bắc, từ ngày 01-15/01/1950, Đại hội lần thứ I Công đoàn Việt Nam
đã đề ra mục tiêu: "Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất là công
nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ kháng chiến chống
thực dân Pháp đến thắng lợi". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam gồm 21 ủy viên chính thức và 04 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ
Trung ương được bầu làm Chủ tịch,
đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu
làm Tổng Thư ký.
Tháng 2/1951, Đại hội lần thứ
II của Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế phục vụ tổng phản công,
đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần
thứ II của Đảng, Công đoàn vận động công nhân hăng hái sản xuất và tham gia
quản lý, xây dựng xí nghiệp. Đây là bước chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng
và phương thức hoạt động Công đoàn. Từ đây trong các xí nghiệp quốc doanh, Công
đoàn đại diện cho công nhân tham gia các Ủy ban xí nghiệp, góp phần trực tiếp
quản lý sản xuất kinh doanh, đưa nền kinh tế kháng chiến phát triển về mọi mặt.
Ở vùng tự do, Công đoàn phát động công nhân "Thi đua sản xuất, thi đua xây
dựng", "Cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, trau dồi nghề
nghiệp". Phong trào được tổ chức, chỉ đạo tương đối chặt chẽ, thực hiện
dân chủ trong quản lý sản xuất.
Giai đoạn cuối của cuộc kháng
chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò
tiên phong của GCCN vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, đấu tranh
kiên cường, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
(1954) lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến
chống thực dân Pháp, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
(1954- 1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm
thời bị chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào
công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới ách thống
trị của đế quốc Mỹ.
Đáp ứng yêu cầu của tình hình
mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào
tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là "Cần phải động viên, tổ
chức đông đảo quần chúng lao động trong các đô thị thành một lực lượng mạnh mẽ
làm chỗ dựa tốt nhất, chắc chắn nhất cho chính quyền tiến hành công tác tiếp
thu, phục hồi sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự thành phố".
Ở miền Bắc tiến hành công cuộc tái thiết đất
nước, khó khăn tiếp tục đặt lên vai người công nhân. Với trách nhiệm chủ nhân
của đất nước, đội ngũ CNVCLĐ đã đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí. Nhờ vậy chỉ trong thời gian ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở
công nghiệp đã phục hồi. Qua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những điển
hình trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như
"Sóng Duyên Hải", "Hợp tác xã Thành Công", "Ba quyết
tâm"… đã xuất hiện nhiều CNVCLĐ tiêu biểu được Đảng, Nhà nước phong tặng danh
hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học
tập, lao động sản xuất và chiến đấu.
Ở miền Nam, phong trào công nhân, Công đoàn
hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay
sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các ngành công nghiệp, thủ công
nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng
đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám
đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho công nhân đấu tranh.
Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp
lý, nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò lãnh đạo của GCCN
trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội
chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan
trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, đồng thời đấu tranh
thực hiện thống nhất nước nhà, thành quả đó có đóng góp quan trọng của GCCN và
tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Trước những yêu
cầu mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được tổ chức tại Hà
Nội từ ngày 23-27/2/1961 đã quyết định đổi tên "Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam" thành "Tổng Công đoàn Việt Nam". Đại hội đã
đề ra mục tiêu: "Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi
đua lao động sản xuất, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với tinh thần mỗi
người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, góp phần đấu tranh thống nhất
nước nhà". Đại hội đã bầu Ban
Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam gồm 55 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự
khuyết. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy
viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ
tịch; đồng chí Trần Danh Tuyên, Ủy
viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Tổng Thư ký.
Đại hội lần thứ III Công đoàn
Việt Nam, họp từ ngày 11-14/2/1974 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra
mục tiêu "Các cấp Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản
xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ
và tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Công
đoàn Việt Nam gồm 72 ủy viên, Ban Thư ký gồm 09 ủy viên. Đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa được bầu làm Chủ tịch
danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký. Các đồng chí Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ được bầu
làm Phó Chủ tịch.
Tổng Công đoàn Việt Nam tham gia xây dựng một
số chế độ, chính sách bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền lương, tiền thưởng.
Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành phố đã ký kết Nghị quyết liên tịch với
cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách
đối với CNVCLĐ. Nhiều Công đoàn cơ sở đã kịp thời động viên
CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được
giao. Việc thực hiện quy tắc an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được
thực hiện tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.
Năm 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng
miền Nam được thành lập đã không ngừng củng cố và phát triển, vừa tổ
chức cho CNVCLĐ các thành phố đấu tranh, vừa động viên CNVCLĐ vùng giải phóng
đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã vận
động CNVCLĐ ở các đô thị đồng loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ
trang tiêu diệt địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
4. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội
(1975 - 1986)
Đầu năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ra đời, đã tạo điều kiện cơ bản để thống nhất tổ chức Công đoàn
trên phạm vi cả nước. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính
trị, từ tháng 01/1976 Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải
phóng miền Nam bắt tay vào chuẩn bị các điều kiện cho việc thống nhất tổ chức
Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc
được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền
Nam, Bắc thành "Tổng Công đoàn Việt Nam".
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV, họp
từ ngày 08-11/5/1978, tại Thủ Hà Nội, Đại hội đề ra mục
tiêu: "Động viên GCCN và những người lao động khác thi đua lao động
sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam gồm
155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 12 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Ủy viên Ban Chấp hành Trung
ương Đảng được bầu làm Phó Chủ tịch
kiêm Tổng Thư ký; đồng chí Nguyễn
Hộ được bầu làm Phó Chủ tịch.
Những năm 1981-1982, Công đoàn đã tiến hành
nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong công nhân, viên chức về tình
hình và nhiệm vụ của đất nước, về chủ trương, chính sách, nhất là các chính
sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã
có nhiều cố gắng trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hoá, kỹ thuật,
nghiệp vụ; đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, thể dục thể
thao; công tác báo chí, xuất bản của Công đoàn đã có những tiến bộ mới.
Đại
hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 16-18/11/1983, tại Thủ
đô Hà Nội, Đại hội đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh phong
trào thi đua lao động sản xuất trong công nhân, viên chức; phát động phong trào
công nhân, viên chức thi đua phục vụ nông nghiệp, đưa nông nghiệp từng bước tiến
lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; lập lại trật tự xã hội trên mặt trận lưu
thông phân phối... Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam gồm 155
ủy viên, Ban Thư ký gồm 13 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Phạm Thế Duyệt, Ủy viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký. Đại hội
đã nhất trí lấy ngày 28/7/1929, ngày thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ làm Ngày
thành lập Công đoàn Việt Nam. Tháng 02/1987, đồng chí Phạm Thế Duyệt, Ủy viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam; đồng
chí Vũ Định được bầu làm Phó Chủ tịch, đồng chí Dương Xuân An được bầu làm Tổng
Thư ký.
Các
phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật
trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến tích cực, nhiều điển hình tiên
tiến và nhân tố mới đã hình thành, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Công tác phát triển đoàn viên được Công đoàn chú trọng, số
đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, Công đoàn còn
tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề nghị Nhà nước bổ
sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp khó khăn…các chế độ
nghỉ ngơi, tham quan du lịch và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được
duy trì, phát triển. Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Công
đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam
Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt
Nam.
5.
Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986 - đến nay)
Trong
tình hình đất nước tiến hành đối mới, từng bước hội nhập, Đại hội lần thứ VI
Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 17-20/10/1988 tại Thủ đô Hà Nội đã xác định
mục tiêu: "Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc
làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội". Đại hội Quyết định đổi
tên "Tổng Công đoàn Việt Nam" thành "Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam gồm 155 ủy
viên, Ban Thư ký gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng được bầu làm Phó Chủ tịch; đồng chí Dương Xuân An được
bầu làm Phó Chủ tịch. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới,
GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào kết quả thực hiện
kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), đưa đất nước ta dần thoát khỏi khó khăn, ổn định
đời sống nhân dân và CNVCLĐ.
Đại
hội lần thứ VII Công đoàn Việt Nam,
họp từ ngày 09-12/11/1993 tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội đã nhấn
mạnh yêu cầu "Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích công nhân lao động". Đại hội bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam gồm 125 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được
bầu làm Chủ tịch; đồng chí Cù Thị Hậu,
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Phó Chủ tịch; các đồng chí Hoàng Minh Chúc,
Nguyễn An Lương, Hoàng Thị Khánh được bầu làm Phó Chủ tịch.
Đại
hội lần thứ VIII Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 03-06/11/1998 nhấn
mạnh "Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì việc
làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn
vững mạnh". Đại hội đã bầu Ban
Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam gồm 145 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm
17 ủy viên. Đồng chí Cù Thị Hậu,
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
được bầu làm Chủ tịch; các đồng
chí Nguyễn An Lương, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ
Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch.
Đại
hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 10-13/10/2003 tại Thủ đô Hà
Nội, Đại hội đã khẳng định "Xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh,
chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường
đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước". Đại hội nhất
trí số lượng Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là 155 ủy viên, tại
Đại hội bầu 150 ủy viên, bầu Đoàn Chủ tịch gồm 19 ủy viên. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí Đặng
Ngọc Tùng, Nguyễn Hoà Bình, Nguyễn Đình Thắng, Đỗ Đức Ngọ, Đặng Ngọc Chiến
được bầu làm Phó Chủ tịch. Tháng
12/2006, đồng chí Đặng Ngọc Tùng,
Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng được bầu
làm Chủ tịch. Tháng 9/2007 các đồng
chí Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức Chính,
Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng được bầu làm Phó Chủ tịch.
Đại
hội lần thứ X Công đoàn Việt Nam, họp từ ngày 02-05/11/2008, tại Thủ đô Hà
Nội, Đại hội đã xác định mục tiêu: "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Công đoàn các cấp, hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn
hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, CNVCLĐ làm đối tượng vận động, chuyển mạnh
hoạt động Công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ, xây dựng quan hệ lao động
hài hòa, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước". Đại hội nhất trí số
lượng Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là 165 ủy viên, tại Đại hội
bầu 160 ủy viên. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí Nguyễn
Hòa Bình, Hoàng Ngọc Thanh, Mai Đức
Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Ngàng được bầu làm Phó Chủ tịch.
Nhiệm
kỳ lần thứ X của Công đoàn Việt Nam hoạt động trong bối cảnh GCCN Việt Nam đã
không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước tình hình đó,
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị
quyết số 20-NQ/TW về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Nghị quyết
thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về xây dựng GCCN, đồng thời đáp
ứng nguyện vọng của hàng triệu CNVCLĐ trong cả nước. Những hoạt động triển khai
thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy
Đảng, cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Công
đoàn đã tạo được chuyển biến trong cả nhiệm kỳ hoạt động, đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
đoàn viên và người lao động.
Đại
hội XI Công đoàn Việt Nam, họp từ ngày 27-30/7/2013 đã xác định
phương châm hành động, đó là "Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của
đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục
đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn"; Đại hội đã xác định 09
nhóm chỉ tiêu, 09 nhiệm vụ tổng quát và 03 khâu đột phá trong cả nhiệm kỳ,
ngoài ra còn có 01 chương trình trọng tâm "Công đoàn Việt Nam đồng hành
cùng Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển bền vững đất
nước". Đại hội nhất trí số lượng ủy viên Ban
Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là 175 ủy viên, tại Đại hội bầu 172 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 27 Ủy
viên. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu
làm Chủ tịch. Các đồng chí: Trần Thanh Hải, Mai Đức Chính, Nguyễn Thị Thu Hồng,
Nguyễn Văn Ngàng, Trần Văn Lý được bầu làm Phó Chủ tịch. Ngày 14/4/2016, đồng
chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
Ngày 17/3/2017, đồng chí Trần Văn Thuật được bầu làm Phó Chủ tịch.
Đại hội XII
Công đoàn Việt Nam, họp từ ngày 24 - 26/9/2018, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội đề ra
mục tiêu “Nâng cao hiệu quả đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền lợi
của đoàn viên và người lao động, vì việc làm bền vững, đời sống ngày càng cao.
Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, tinh thần
yêu nước, hiểu biết pháp luật, trách nhiệm cao, tay nghề giỏi, góp phần xây dựng
giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh. Hoàn thiện mô hình tổ chức, đổi mới
phương thức hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn bản lĩnh, trí tuệ,
chuyên nghiệp; tập hợp, thu hút đông đảo người lao động vào tổ chức Công đoàn
Việt Nam; xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh. Tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh; góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội
quyết định số lượng Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là 175 ủy
viên, tại Đại hội bầu 161 ủy viên; quyết định số lượng Ủy viên Đoàn Chủ tịch là
27 ủy viên, tại Đại hội đã bầu 22 ủy viên. Đồng chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Ban
Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch. Các đồng chí: Trần Thanh Hải,
Trần Văn Thuật, Phan Văn Anh, Ngọ Duy Hiểu được bầu làm Phó Chủ tịch. Ngày
28/7/2019, đồng chí Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được
bầu làm Chủ tịch. Ngày 12/01/2022, đồng
chí Thái Thu Xương được bầu làm Phó Chủ tịch. Ngày 22/3/2023, đồng chí Huỳnh
Thanh Xuân được bầu làm Phó Chủ tịch.
Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt
Nam được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến nhanh, phức tạp hơn so với dự báo. Những năm
đầu của nhiệm kỳ, các cấp công đoàn triển khai thực hiện Nghị quyết trong điều
kiện có nhiều thuận lợi, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tốc
độ tăng trưởng khá. Tuy nhiên, từ đầu năm
2020, đại dịch Covid-19 bùng phát, cùng tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột vũ trang giữa các quốc gia, sự đứt gãy của chuỗi cung ứng toàn cầu, đã ảnh hưởng trực tiếp và toàn diện đến việc làm,
thu nhập, đời sống của đoàn viên, người lao động và hoạt động công đoàn. Mặc dù gặp nhiều khó khăn,
thách thức, 05 năm qua, số lượng đoàn viên, người lao động tiếp tục tăng, chất lượng được
nâng lên, đóng góp hằng năm của giai cấp công nhân cho đất nước chiếm
hơn 65% tổng sản phẩm quốc dân và hơn 70% ngân sách nhà nước.
Đại hội XIII
Công đoàn Việt Nam, họp từ ngày 01 -
03/12/2023 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã đề ra mục tiêu: Nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn, tập trung thực
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng kịp thời yêu cầu của tình hình mới, trọng
tâm là đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người
lao động. Hoàn thiện mô hình tổ chức, thu hút, tập hợp đông đảo người lao động
gia nhập công đoàn; xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn có trí tuệ, bản lĩnh, tâm huyết,
trách nhiệm, uy tín và phương pháp công tác tốt. Đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, nâng
cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công
nghiệp, kỷ luật lao động của đoàn viên, người lao động; xây dựng giai cấp công
nhân hiện đại, lớn mạnh, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước
phồn vinh, hạnh phúc. Đến cuối nhiệm kỳ, hướng
đến kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, khẳng định Công đoàn Việt
Nam vững mạnh toàn diện, là chỗ dựa tin cậy của người lao động, là cơ sở chính
trị - xã hội vững chắc của Đảng, Nhà nước ta. Đại hội đã bầu
Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIII gồm 168 ủy viên; Đoàn
Chủ tịch là 28 ủy viên. Đồng chí
Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
Các đồng chí: Phan Văn Anh, Ngọ Duy Hiểu, Thái Thu Xương, Huỳnh Thanh Xuân,
Nguyễn Xuân Hùng được bầu làm Phó Chủ tịch.
Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, họp từ ngày 03 - 05/6/2026, tại
Thủ đô Hà Nội, Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ 2026 - 2031 là:
Tập trung phát triển đoàn viên, hoàn thiện mô hình tổ chức, nâng cao hiệu
quả hoạt động; thực hiện tốt vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động; thúc đẩy thực hiện dân chủ tại
nơi làm việc; tuyên truyền, vận động người lao động đổi mới sáng tạo, tiên
phong ứng dụng khoa học - công nghệ, xây dựng lực lượng sản xuất mới, nâng
cao năng suất lao động, góp phần xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ,
giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Đại hội quyết
định triển khai 01 phong trào thi đua mới: “Lao động giỏi, Năng suất cao, Thu
nhập tốt”, thực hiện 02 khâu đột phá; 03 chương trình trọng
tâm; thông qua
04 đề án trọng điểm; đề ra 05
nhóm nhiệm vụ, giải pháp và 10 nhóm chỉ tiêu chủ yếu của
nhiệm kỳ 2026-2031.
Đại hội bầu Ban Chấp hành
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 gồm 135 đồng
chí. Tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
khóa XIV đã bầu Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam gồm 27 đồng chí;
bầu đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư
Đảng ủy, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIII giữ chức Chủ tịch
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV; bầu các đồng chí: Ngọ Duy Hiểu, Thái
Thu Xương, Nguyễn Xuân Hùng, Lê Văn Nghĩa giữ chức Phó Chủ tịch.
Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 -
28/7/2026) là sự kiện chính trị có ý nghĩa sâu sắc, diễn ra trong bối cảnh toàn
hệ thống Công đoàn bắt đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV Công
đoàn Việt Nam, quyết tâm xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh toàn diện, hiện
đại, chuyên nghiệp, thực sự là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động.
Đây là dịp để cán bộ, đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động cả nước ôn lại
truyền thống vẻ vang của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam;
khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử, những đóng góp to lớn của giai cấp công
nhân và tổ chức Công đoàn trong các giai đoạn cách mạng; đồng thời khơi dậy
mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến, ý chí đổi mới sáng tạo, góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM